Di tích lịch sử - văn hóa đền Lăng

31/07/2019 29 0
Di tích đền Lăng xưa kia thuộc xã Bảo Thái, tổng Hòa Ngãi, phủ Lý Nhân, nay thuộc thôn Cõi, xã Liêm Cần.

Theo những tư liệu được sưu tầm, lưu giữ: Thời cổ xưa, trên đỉnh núi Lăng có đền Thượng là sinh từ của vua Đinh thiết lập năm 972, là nơi thờ vua Đinh Tiên Hoàng. Giữa thân núi là sinh từ, thời Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân, vinh quy bái tổ về đây xây dựng năm 971, sau trở thành từ đường nhà Tiền Lê, nhân dân địa phương gọi là đền Trung. 
Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, đền Thượng, đền Trung  nay chỉ còn dấu tích. Hiện chỉ còn đền Hạ, dưới chân núi Lăng, còn gọi là đền Lăng được công nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia vào năm 1999. Đền Lăng, cung trong thờ tứ vị Hoàng đế (đó là: Vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành, vua Lê Trung Tôn và vua Lê Ngọa Triều), cung ngoài thờ tam vị Đại vương (đó là: Tướng Nguyễn Minh, Phó thập đạo Tướng quân cùng với Lê Hoàn phò nhà Đinh dẹp loạn 12 sứ quân; bà Nhữ Hoàng đế với sắc phong “Gia tặng quốc sắc thiên tài chung đẳng thần”; thần Thiên Cương đã báo mộng cho ông Nguyễn Minh, ở thôn Vực đi phù nhà Đinh trừ loạn nước cùng Lê Hoàn). 
Đền Lăng được nhân dân tôn lập thời hậu Lê, đầu Nguyễn theo truyền chỉ trước đây của vua Lý Thái Tổ (nhà Lý lên ngôi, khi dời đô ra Thăng Long đã ban chiếu cho Bảo Thái phụng sự lập đền để thờ tứ vị Hoàng đế. Các triều đại kế tiếp đều y lệ cũ ban sắc và xuân thu nhị kỳ tổ chức quốc tế). Dưới thời Pháp thuộc, đền Lăng là di tích sớm được nhà nước chú ý. Ngày 16/5/1925, toàn quyền Đông Dương ra thông báo liệt hạng là di tích được bảo vệ.

Trước kia, khi đi qua con đường trước cửa đền Lăng, người làm quan thì phải xuống ngựa dắt qua, người dân thì ngả mũ nón ... để tỏ lòng thành kính với tứ vị Hoàng đế, tam vị Đại vương. Phát huy truyền thống của cha ông, người dân Liêm Cần hôm nay luôn giáo dục các thế hệ con cháu ghi nhớ công lao to lớn của các vị tiền nhân trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc; từ đó vận động mọi người chung tay, chung sức bảo vệ, gìn giữ di tích quý trên mảnh đất quê hương. Được biết, vào dịp lễ, Tết, người dân tới đền Lăng lễ rất đông. Đặc biệt, vào đêm 30 Tết hằng năm, nhiều người ở lại đón giao thừa tại đền sau đó mới về nhà xông đất để lấy lộc Vua.

Ngoài đền Lăng, trên đất Bảo Thái xưa, Liêm Cần nay hiện còn khu mộ cụ Lê Lộc, ông nội vua Lê Hoàn được xây dựng bề thế, uy nghiêm. Theo tương truyền, vào cuối thế kỷ thứ X, ở quê hương Trường An Thượng có ông bà Lê Lộc đến xã Bảo Thái làm nghề kéo lưới, đơm lờ, đó bắt cá sinh sống. Cụ lập ngôi nhà tranh ở đầu núi Bảo Cái sinh cơ lập nghiệp lâu dài... Thường ngày có một con hổ hay qua lại, cụ nuôi hổ, cho làm “con nuôi”, đặt tên là Sơn Trưởng, giao nhiệm vụ trông coi lờ đó ... Một hôm vào giờ tý canh ba cụ Lê Lộc đi thăm lờ đó thấy bờ vỡ, cụ xuống be lại. Sơn Trưởng nhầm tưởng là người đổ trộm đó bất ngờ tát cụ Lê Lộc chết. Sau biết là bố nuôi, hổ cõng cụ vào núi an táng. Sau này nhân dân thường gọi mộ cụ Lê Lộc là mả giấu, hay mộ hổ táng. Con trai cụ Lê Lộc trông nom phần mộ 3 năm rồi lấy bà Đặng Thị, sinh ra Lê Hoàn, sau này làm tướng, rồi lên ngôi vua. 
Hiện khu mả giấu nơi hổ táng cụ Lê Lộc, ông nội vua Lê Đại Hành nằm ở vị trí hàm rồng, hai bên là núi Lăng và núi Bông. Sau mộ là núi Bảo Cái (thân con rồng). Theo lưu truyền, mộ cụ Lê Lộc đặt vào vị trí đất phát đế vương, vì vậy đất Bảo Thái được xem là quê hương "Tiền Lê phát tích". Hiện nay trong đền Lăng vẫn còn vì kèo chạm khắc ông hổ để đó nhắc mọi người khi tới lễ, tới tham quan nhớ về tích xưa …

Di tích lịch sử đền Lăng liên quan tới nhiều nhân vật lịch sử có đóng góp to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Di tích được trùng tu, tôn tạo góp phần bảo tồn, tạo nền tảng phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn. 

Những bài viết liên quan

Lịch trình mẫu